Thống kê truy cập
Truy cập trong tuần 1.171
Truy cập trong tháng 2.655
Truy cập trong năm 96.003
Tổng truy cập 1.776.620
Truy cập hiện tại 17
Tìm kiếm
Tài nguyên >> Nghiên cứu khoa học
Về năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên tại các cơ sở đào tạo thư viện - thông tin
Ngày cập nhật 23/06/2009

Tóm tắt:  Nêu vai trò của công tác nghiên cứu khoa học đối với việc đào tạo cán bộ TT -TV. Xác đnh những nguyên nhân khách quan và chủ quan của tình hình yếu kém trong công tác nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên tại các cơ sở đào tạo đại học cán bộ TT -TV hiện nay. Đề xuất các giải pháp để nâng cao năng lực nghiên cứu của đội ngũ giảng viên ngành TT -TV.

 

 

 

                                                                        TSKH. Bùi Loan Thùy

 

 

                            Trưng Đại học KHXH &NV TP. HCM

 

 

 1. Đặt vấn đề

 

Một trong những yếu t quan trọng quyết đnh trực tiếp chất ng hiệu quả đào tạo chính trình độ của đội ngũ giảng viên đưc thể hiện qua năng lực giảng dạynghiên cứu khoa học. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn (hệ thống các văn bằng: cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ), chức danh khoa học (giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp, phó giáo sư, giáo sư) về phẩm chất chính tr, trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm và năng lực nghiên cứu khoa học.

 

Trong những năm qua, những yêu cầu của đổi mới giáo dục đại học đã tác động mnh m đến các trưng đại học trong cả nưc. Vì vậy, các trưng đào tạo cán bộ TV - TT c ta đều nhiều nỗ lực trong việc phát triển số lưng nâng cao trình độ của đội ngũ giảng viên (giữ sinh viên giỏi ở lại tng, cử giảng viên đi học cao học, yêu cầu giảng viên phải tham gia nghiên cứu khoa học,...).

 

2. Giảng viên với công tác nghiên cứu khoa học

 

Trình độ chuyên môn của ngưi giảng viên thưng đưc xác đnh qua các văn bằng mà họ đạt đưc. Tuy nhiên, trên thực tế, đối với ngưi giảng viên bằng cấp chỉ một trong những tiêu chí cần có, quan trọng hơn là năng lực giảng dạy, khả năng truyền đạt tri thức với hiệu sut cao, giá trị khoa học của bài giảng (lưng thông tin cung cấp, phương pháp tiếp cn vấn đề, những kiến thức sinh viên thu nhận đưc) ng lực nghiên cứu khoa học (thể hiện số lưng các công trình khoa học hiệu quả, giá trị khoa học của chúng). Chỉ có thể có các bài ging chất lưng cao, nếu ngưi giảng viên tng xuyên tham gia nghiên cứu khoa học, nắm bắt kp thời tri thc mới về ngành nghề, về môn học mình giảng dạy. Ngoài ra, nếu ngưi ging viên phẩm chất, năng lực của ngưi làm nghiên cứu thì sẽ t nâng cao năng lực giảng dạy, biết cách kích thích sinh viên tìm tòi khám phá cái mới, khơi dậy tiềm năng sáng tạo trong sinh viên, biết cách ng dẫn sinh viên t học, tập sự làm công tác nghiên cứu, rèn luyện năng lực tư duy khoa học cho sinh viên, đưa dần sinh viên vào môi trưng khoa học, nắm bắt kp thời tiến bộ của nghề nghiệp.

 

Bản nh uy tín khoa học của ngưi giảng viên cn đưc coi một trong những thưc đo quan trọng khi đánh giá phân loại giảng viên. Cơ sở đánh giá ng lực nghiên cứu khoa học ca giảng viên phải dựa vào những sản phẩm trí tuệ của họ ng tạo ra, gồm: các công trình nghiên cứu, tài liệu giáo khoa giáo trình, bài ging, bài báo, báo cáo khoa học.... Mặc giảng dạy nghiên cứu khoa học hai nhim vụ quan hệ mật thiết với nhau nhưng tiếc rằng cách đánh giá chất lưng giảng viên hiện nay các trưng vẫn chưa chú trọng nhiều đến hoạt động nghiên cu khoa học của họ. vậy, nghch trong giáo dc đại học nói chung đào tạo cán b TV -TT nói riêng hàng năm số lưng giảng viên giỏi đưc bình bầu thì nhiu nhưng chất lưng đào tạo chung thì vẫn thấp. “Giảng viên giỏi” khó lòng tr thành những tm ơng sáng về nghiên cứu khoa học cho sinh viên noi theo nếu bản thân họ rất ít các sản phẩm khoa học. Thực lực của đội  ngũ giảng viên còn rt hạn chế, lẽ đây nguyên nhân chủ yếu gii, sao đến nay trong nh vực đào to TT -TV chưa đủ sức hình thành một hệ thống giáo khoa, giáo trình, bài giảng hoàn chnh, tính hệ thống, đón trưc, cung cấp những quan điểm lý thuyết mới, đnh ng cho sự phát triển rất nhanh của ngành nghề trong thực tiễn.

 

Gần đây, cho nhiều giảng viên cơ hữu của các trưng đào tạo cán b TV -TT đang rất nhiu cố gắng để nâng cao trình độ chuyên môn bằng nhiều con đưng khác nhau, tuy nhiên, cần phải thẳng thn thừa nhận rằng, do năng lực nghiên cứu khoa học còn rất hạn chế, nên uy tín khoa hc của đội ngũ giảng viên này vẫn còn rất khiêm tốn đối với toàn ngành ch hẹp trong phm vi nhà trưng, thậm chí đối với sinh viên của từng trưng. Mặc số ng giảng viên cơ hữu bằng cấp thạc sĩ, tiến sĩ (chủ yếu là thc sĩ) đang tăng lên hàng năm nhưng đóng góp của họ đối với sự phát triển ca khoa học không nhiều, chất lưng một số giảng viên xét v hiệu quả giảng dy nghiên cứu thua kém xa so với lực ng giảng viên thnh giảng hiện công tác ti các thư viện, cơ quan thông tin lớn. Nếu so sánh với đội ngũ giảng viên của c ngoài thì trình độ chuyên môn còn bất cập hơn nữa.

 3. Nguyên nhân của sự yếu kém và giải pháp khắc phục

 

Có thể kể ra một số nguyên nhân của tình hình như sau:

      

Nguyên nhân chủ quan:

-    Bản thân ngưi giảng viên chưa chủ động, tích cực nâng cao trình độ năng lực giảng dạy cũng như năng lực nghiên cứu, ngi đi mới về phương pháp đào tạo. Giảng viên chưa thực sự t giác tham gia nghiên cứu khoa học, nghiên cứu khoa học chưa trở thành nhu cầu tự thân mà chỉ thực hiện mang tính chất hình thức nhằm đối phó với việc bình bầu thi đua để đạt tiêu chuẩn ging viên giỏi hoặc tiêu chuẩn hc nghiên cứu sinh, cao hc. Chính vy, không ít bài báo khoa học, đặc biệt các báo cáo khoa học cấp trường do không đưc đầu tư thời gian và công sức một cách nghiêm túc nên không bảo đảm chất lưng khoa học cao, thiếu chiều sâu, ý nghĩa khoa học, tính mi, tính khả thi thấp. Việc nghiệm thu các công trình nghiên cứu cấp s một cách dễ dàng (nht các báo cáo khoa học cấp khoa) do tâm n nang, xuê xoa cho qua của ngưi phản biện, do bệnh thành tích, hoặc do trình độ chuyên môn hạn chế đã gây nên tâm không coi trọng việc nghiên cứu khoa học và không nghiêm túc trong lao động khoa học ở một số giảng viên trẻ;

 

-     Một số ging viên chưa nhận thức đưc đầy đủ về tầm quan trọng của nghiên cứu khoa hc đối vi công tác giảng dạy, chưa tht sự hết lòng với sự nghiệp đào tạo, t bằng lòng với vốn tri thức cũ, kinh nghiệm đã có lên lp ging dạy hàng năm với các khóa sinh viên khác nhau mà không cập nhật tri thức mới. Nói một cách khác, một bộ phận giảng viên còn thiếu tâm huyết của ngưi làm nghề dạy học, quan niệm giản đơn v nghề nghiệp, còn chủ quan khi lấy kinh nghiệm sư phạm, độ thâm niên trong giảng dạy thay thế cho khoa học;

 

-     Đi sống kinh tế khó khăn nên phần lớn giảng viên trẻ tập trung thi gian vào việc làm khác để tăng thu nhập. Những giảng viên trình độ cao, kinh nghiệm thì trở thành “th dạy” để đảm bảo cuc sống cho bản thân gia đình, không còn đủ thi gian dành cho công việc nghiên cứu. Sinh viên tốt nghiệp loại khá, gii giữ li trưng đứng trưc mâu thuẫn về nhận thức và đời sống hiện thực đòi hi sớm đưc giải quyết. Do thu nhp thấp nên nhiều ngưi coi việc lại trưng c “đệm để thời gian học cao lên rồi chuyển ng tác đi nơi khác, hầu n không quan tâm đến đầu tư cho nghiên cứu khoa hc, vậy, việc chuẩn bị bài giảng thưng sài, chủ yếu dựa vào giáo trình do ngưi khác biên soạn, do vậy, bài giảng không thể sinh động, hấp dẫn, lượng thông tin cung cấp ít, thiếu sức thuyết phục đối với sinh viên, tạo nên tâm lý chán học, tưng không tha thiết với nghề nghiệp, học để đối phó lấy đim, lấy bằng cấp ngày càng lan rộng trong sinh viên.

 

Nguyên nhân khách quan:

 

-     chế đnh mức lao động –tiền lương hiện hành đối với đội ngũ giảng viên chưa thể hin tốt chính sách giáo dc - đào tạo, khoa học -công nghệ là quốc sách hàng đầu. Với lao động trí tuệ đặc thù, trong thực tế khung lương của giảng viên hiện nay chưa thể khuyến khích giảng viên tích cực nghiên cứu khoa học. Cơ chế quản về KHCN cũng còn nhiều bất cập, chế độ hỗ trợ trong việc thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, chế độ nhuận bút trong viết sách chuyên khảo, biên soạn giáo trình, giáo khoa, tài liệu tham khảo mc dù đã đưc cải tiến song vn chưa khuyến khích giảng viên nghiên cứu khoa học do còn rất thấp so với thời gian, chi phí, công sức người giảng viên phải bỏ ra;

 

-    Tác động tiêu cực của nền kinh tế thị tng, những khó khăn nảy sinh trong cuộc sống làm ảnh ởng đến tâm , lòng yêu nghề, ý thức trách nhim trong giảng dạy, ý thức tự học, tự nghiên cứu, sự vươn lên trong khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn;

 

-    So với nhiều ngành khoa học khác, đội ngũ giảng viên hữu các môn học chuyên ngành nghiệp v TT -TV còn ít ỏi về s lưng, yếu về chất lưng. Số lưng giảng viên đưc đào tạo c ngoài ít, nhiều giảng viên còn thiếu kinh nghim thực tiễn, ít hi học tập nâng cao trình độ, thiếu ng động tích cực thay đổi phương pháp giảng dạy. Thiếu nghiêm trọng các ging viên dạy các môn học về thông tin.

             Trong qui chế giáo dục đại học qui đnh, giảng viên phải có trình độ cao hơn cấp tham gia đào tạo ít nhất mt bậc, phải có chức danh khoa học mới được giảng dạy đại học, không qui đnh ràng phải có bằng cấp theo đúng chuyên ngành đào tạo, vậy, một số giảng viên TV -TT đã chọn ng đi lấy bằng tiến sĩ, thc không theo đúng các chuyên ngành sâu về TV -TT. Điều này làm hạn chế một phần nào sự đóng góp của họ cho sự phát triển ca khoa học TV -TT, đồng thời, không khuyến khích việc phấn đấu bảo vệ công trình nghiên cứu khoa học bậc thạc sĩ, tiến sĩ theo đúng ngành nghề giảng dạy.

 

Ngoài ra, trong nhiều năm qua, số lưng tiến sĩ chuyên ngành TV -TT chuyên làm công tác ging dạy tăng không đáng kể đã dẫn đến tình trạng hụt hẫng lớn về trình độ và đội ngũ kế cận. Hầu hết các tiến sĩ đưc đào tạo tại c ngoài đã tuổi đời trên 50, nhiều ngưi đã nghỉ hưu, những ngưi còn li đa số đu kiêm công tác quản nên thời gian dành cho nghiên cứu khoa học bị hn chế. Số giảng viên tr thạc sĩ năng động, nhanh nhạy muốn nâng cao trình đ nhưng việc đi hc nghiên cứu sinh nưc ngoài không phải dễ dàng, việc đào tạo bậc tiến chuyên ngành TV -TT trong c lại đang xúc tiến rất chậm chạp, trong khi đó thời gian trôi nhanh, họ buc phải chuyển hưng theo học bậc tiến sĩ các chuyên ngành khác.

 

Bên cạnh đó, số lưng giảng viên thông thạo ngoại ngữ nm đưc tin học (để có điều kiện tiếp cận nhanh với các tri thức khoa học mới của thế giới qua nguồn tài liệu ngoại văn, qua mạng Internet) không nhiều, do đó, ảnh hưng lớn đến khả năng nghiên cứu khoa học nâng cao trình độ chuyên môn, gp rất nhiều khó khăn trong việc mở rộng giao lưu quốc tế;

 

-    Qui mô đào tạo tăng nhanh, các loại hình đào tạo m ra nhiều, nhiệm vụ ging dạy và trách nhiệm của ngưi giảng viên ngày càng nặng nề, thời gian dành cho nghiên cứu khoa hc vốn đã hn hẹp lại càng hạn hẹp hơn. Bên cạnh đó môi trưng khoa học, cơ sở vật cht dành cho nghiên cứu lại chưa thuận li, giảng viên ít điều kin đi thực tập, kho sát, tu nghiệp c ngoài. Nhiều môn học, đc bit các môn mới liên quan đến thông tin chủ yếu phải dựa vào các giảng viên thnh ging, vì vậy, tạo nên sức ép ln về thời gian đối với cả giảng viên và sinh viên, làm giảm chất lưng đào tạo;

 

-      Việc giao lưu giữa giảng viên các trưng rất hn chế nên thông tin về các đề tài nghiên cứu không đưc cập nhật, tính kế thừa hợp tác trong nghiên cứu, việc khai thác sử dụng kết quả nghiên cứu của các đề tài khác còn ít;

 

-     Năng lực quản ngành học của phần lớn cán bộ quản các khoa, b môn TV -TT còn bị hạn chế, chưa thể đáp ứng tốt đưc yêu cầu phát trin của ngành trong giai đoạn CNH, HĐH ng tới nền kinh tế tri thức hội thông tin. Tại các ngành đào tạo khác, việc quản ngành học đưc giao cho những ngưi thực sự năng lực và trình độ cao trong ngành học đó đm nhim. Các trưng khoa, trưng bộ môn phải những nhà giáo đt đủ các tiêu chuẩn v học hàm, học v, phẩm cht chính tr, đạo đức tốt, năng lực quản lý, kinh nghiệm đào tạo, đưc đồng nghiệp tin yêu, bản nh khoa học vững vàng, uy tín khoa học cao trong ngành, khả năng xây dựng phát triển khoa, bộ môn quan h quốc tế rng rãi, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao ca công tác đào tạo nghiên cứu khoa học. Trong khi đó, lãnh đạo các sở đào tạo hiện chủ yếu trình độ là thạc điều này không thể không ảnh hưng đến hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học của các khoa và hậu quả là tính dự báo trong nội dung chương trình đào tạo yếu, việc “đào tạo đón trưc” để đáp ứng kp các đòi hỏi mới của hiện ti cũng như tương lai phát triển của sự nghiệp TT -TV khó trở thành hiện thực.

 

Đ nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên TV -TT cn tiến hành thực hiện các giải pháp chủ yếu sau đây:

 

Về phía nhà nưc:

 

-     Tăng ngân sách nhà nưc đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học các trưng, đổi mới chế cấp phát kinh phí nghiên cứu, gim bớt các thủ tc tài vụ (mang tính hình thức) cho ngưi làm nghiên cứu;

 

-    Cần chiến lưc tng th cho sự phát triển của đội ngũ giảng viên, đề ra những qui đnh tính cưng chế, bắt buộc giảng viên phải không ngừng nâng cao trình độ, hoàn thiện về trí tuệ tham gia nghiên cứu khoa học cũng như đi thực tế hàng năm tại các thư viện và cơ quan thông tin lớn;

 

-     Cần hoàn thiện chế đánh giá cht ng giảng viên về phẩm chất chính tr, phẩm cht nghề nghip, năng lực giảng dạy (kỹ năng sư phm), năng lực nghiên cứu khoa học (slưng, chất lưng công trình nghiên cứu, hiu quả đóng góp cho khoa học và xã hội);

 

-     Tạo động lực để nâng cao năng lực giảng dạy nghiên cứu khoa học. Đng lực trực tiếp có tác dụng kích thích giảng viên lao động sáng tạo đáp ng những lợi ích vật chất và tinh thần chính đáng của đội ngũ giảng viên, cải tiến chế độ lao động – tiền lương theo trình độ và cng hiến thực tế, cải tiến chế độ nhuận bút, coi trọng ng lực khoa học, uy tín khoa học, to điều kiện thuận lợi cho việc đi học c ngoài thực hiện các công trình nghiên cứu trong nưc, tôn vinh sự cống hiến của giảng viên;

 

-    Trong thành phần của Hội đồng thư viện Việt Nam ngoài lãnh đạo các cơ quan TT -TV lớn, các chuyên gia đầu ngành phi bao gồm cả các chuyên gia đầu ngành trong nh vực đào tạo. Các chuyên gia phải đánh giá chất lưng đào tạo, chương trình đào tạo cán bộ TV -TT các trưng. Hội đồng đề ra các tiêu chí đánh giá cụ thể, so sánh vi các c trong khu vực thế gii, đồng thời tiến hành kiểm tra, giám sát định k hàng năm về thực trạng đào tạo và nghiên cứu khoa học;

 

-    Chính phủ cho phép nhanh chóng m đào tạo bậc tiến ngành TT -TV trong nưc.

 

Về phía nhà trường và các khoa TV -TT:

 

-    Các trưng đào tạo cán bộ TV -TT cần đề cao vị trí của công tác nghiên cứu khoa học hơn nữa, chế, các chính sách cụ thể để động viên, khuyến khích h trợ đi học, tự học, nghiên cứu khoa hc, tạo môi trường thuận li cho ging viên phát triển, phát huy tiềm năng trí tuệ. Tng xuyên tổ chức đánh giá cht lượng để sàng lọc những ngưi không đủ tiêu chuẩn, khen thưng xứng đáng kp thời những giảng viên nhiu công trình nghiên cứu hàng năm;

 

-    Tạo hội cho giảng viên đưc giao lưu quốc tế, tiếp cận với phương tin giảng dạy nghiên cứu hiện đại, có kế hoạch đào tạo đội ngũ giảng viên trẻ có trình độ cao để thể thay thế các giảng viên lớn tuổi, giải quyết tình trạng hẫng hụt về đội ngũ;

 

-    Các khoa TV -TT phải coi công tác nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên trách nhim nghề nghip chứ không phải một phong trào nhất thời, mang tính thời vụ. Các hội ngh khoa học, các đ tài nghiên cứu phải đưc tiến hành nghiêm túc, chất lưng cao, bảo đm tính khoa học và ý nghĩa thực tiễn,...;

 

-    Cải tiến việc tuyển chn sinh viên tốt nghiệp gi lại trưng: kế hoch bồi dưng  ngay từ kết quả học tập năm thứ nhất những sinh viên khá gii, xut sắc, bộc lộ năng khiếu phạm (qua các buổi semina, diễn đàn, thi hùng biện), bố trí giảng viên giỏi theo dõi trực tiếp, hưng dẫn sinh viên tham gia phong trào nghiên cứu khoa học một cách hệ thống, liên tục cho đến khi tốt nghiệp gilại trưng. Sau đó, chuyển tiếp đào tạo bậc thc sĩ nghiên cứu sinh trong thời gian sớm nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tham gia nghiên cứu khoa học;

 

-     Tăng ng mời các chuyên gia TV -TT trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm thực tiễn ti các trung tâm thông tin, thư viện lớn của đất c tham gia các đề tài nghiên cứu của các khoa TV -TT, tham gia giảng dạy với tư cách giảng viên thnh giảng. Mở rng chế độ hợp đồng nhằm thu hút tiềm năng trí tu của giảng viên thnh giảng, ràng buộc chế độ trách nhiệm trong giảng dạy và hưng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học;

 

-     Mở rộng đào tạo bậc cao học, hoàn thiện sở pháp cho việc đào tạo bậc tiến sĩ trong nưc, tạo điều kiện cho đội ngũ giảng viên nhanh chóng đưc nâng cao trình độ chuyên môn, từng bưc chuẩn hóa trình độ;

 

-     Mở rộng giao lưu khoa học giữa các giảng viên của các trưng đào tạo cán bộ TV -TT bằng nhiều hình thức khác nhau: hội thảo khoa học, phối hợp tham gia các đ tài nghiên cứu,... để các giảng viên điều kiện thuận li trao đổi ý tưng khoa học, học hỏi kinh nghim nghiên cứu, cùng nhau đề ra các kiến nghị khoa học,... tiến ti giao lưu với các giảng viên của các trưng đào tạo cán bộ TV -TT c ngoài, tham gia vào cộng đồng khoa học TV -TT thế giới, tăng cưng viết bài cho các tạp chí nghiệp vụ trong c c ngoài;

 

-    Nâng cao năng lực qun ngành học của trưng các khoa, bộ môn TV -TT tại các trưng. Bồi ng bổ sung kiến thức về khoa học qun (nhất là quản lý giáo dục đại học) để lãnh đạo các đơn vị đào tạo thể quản tốt cả hai đối tưng giảng viên sinh viên, phát huy đưc tiềm năng trí tu của đội ngũ giảng viên trình độ cao, sử dụng giảng viên trẻ triển vọng nhằm thực hiện tt nhim vụ đào tạo nghiên cứu. Bên cạnh đó, cần nâng cao trình độ chuyên môn sâu v khoa học chuyên ngành TV -TT các khoa học liên ngành cũng như bản nh khoa học, uy tín khoa học của đội ngũ cán bộ quản lý này.

 

Thực hiện các giải pháp trên đây sẽ góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các chuyên ngành TV -TT điều kiện không thể thiếu để nâng cao chất lưng đào tạo cán b TV -TT trong thi k đẩy mạnh CNH, HĐH đất nưc.

 

 

 Tài liệu tham khảo

 

1.   Đm bảo chất lưng đào tạo chuyên ngành thông tin -thư viện: K yếu hội thảo khoa học chuyên ngành TT -TV lần thứ nhất B môn TT -TV trưng Đi học KHXH &NV Đi học Quốc gia Hà Nội. H.: ĐHQG HN, 2001.-230 tr.

 

2.   Kolin K.K. Nền văn minh thông tin: ơng lai hay thực ti //Tạp chí Thư viện học. -  2001.- Số 2.- Tr. 34-43 (tiếng Nga).

 

3.   Mai Quốc Chánh. Nâng cao chất lưng ngun nhân lực đáp ứng yêu cầu

CNH, HĐH đất nưc.H.: Chính trị quốc gia, 1999.-132 tr.

 

4.   Nguyn Văn Sơn. Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. - H.: Chính tr quốc gia, 2002.- 268 tr.

 

5.   Trần Văn Nhung. Đổi mới giáo dc đại học, hội thách thức //Báo Nhân dân ngày 03/04/2004.-Tr.5.

 

 

 

On the scientific research capacity of teaching staffs at LIS training centres / Bui Loan Thuy// J. of Information and Documentation. - 2004, N.3. - pp. 1-6

 

 

 

Abstracts: Indicates the role of scientific research in training for librarians and information professionals; Identifies objective and subjective reasons of present unsatisfied situation of scientific research by teaching staffs at LIS training centres; Recommends some solutions to enhancing research capacity of teaching staffs in LIS.

Xem tin theo ngày